thue gia tri gia tang

Tổng quan về thuế giá trị gia tăng và phương pháp khấu trừ thuế

5 (100%) 17 votes

Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Về bản chất, thuế giá trị gia tăng (GTGT) là thuế gián thu. Tính gián thu của loại thuế gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người thực tế chịu thuế khác nhau. Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh nhưng người thực tế chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ vì số thuế nhà nước thu là một bộ phận cấu thành của giá hàng hóa, dịch vụ. Do tính gián thu này mà thuế GTGT có khả năng điều tiết tiêu dùng xã hội. Đồng thời, thuế GTGT cũng đem đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, dễ quản lý vì người sản xuất, kinh doanh không phải là người thực tế chịu thuế nên sẽ hạn chế động cơ trốn thuế.

Việc xác định số thuế GTGT nộp qua mỗi khâu phải dựa trên điều kiện thực tế của chủ thể kinh doanh, đồng thời đáp ứng yêu cầu thu đúng, thu đủ số thuế vào ngân sách nhà nước. Dựa trên đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào tương ứng, phương pháp khả thi xác định số thuế phải nộp là tính theo phần thuế chênh lệch qua các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông (phương pháp khấu trừ thuế) hoặc tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm phát sinh do chủ thể nộp thuế tạo ra (phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm).

thue gia tri gia tang

Thuế giá trị gia tăng được thu qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.

Theo Điều 9 Luật Thuế GTGT 2013, phương pháp tính thuế giá trị gia tăng gồm phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.

Phương pháp khấu trừ thuế

Theo phương pháp tính thuế này, số thuế GTGT phải nộp bằng số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.

Thuế GTGT = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào (được khấu trừ)

Thuế giá trị gia tăng đầu ra là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể nộp thuế đã xác định và tính trong giá bán cho người nhận hàng hóa dịch vụ (trong giá thanh toán). Phần thuế này được tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó (điểm b Khoản 1 Điều 10 Luật Thuế GTGT 2013). Trong đó:

  • Giá tính thuế:

+ Đối với hàng hóa sản xuất trong nước: giá tính thuế là giá bán ra chưa có thuế GTGT.

+ Đối với hàng hóa nhập khẩu: giá tính thuế là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có) cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuế bảo vệ môi trường (nếu có).

  • Thuế suất: được quy định rõ cho từng loại ngành nghề kinh doanh, từng chủng loại hàng hóa, dịch vụ. Hiện nay theo quy định của pháp luật Thuế GTGT hiện hành, có 3 mức thuế suất. Cụ thể như sau:

+ Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu và một số dịch vụ xuất khẩu.

+ Thuế suất 5%: áp dụng đối với một số hàng hóa, dịch vụ thuộc diện khuyến khích sản xuất, tiêu dùng.

+ Thuế suất 10%: áp dụng đối với tất cả các hàng hóa, dịch vụ còn lại.

Thuế GTGT ở khâu bán ra được xác định trên chứng từ hóa đơn hợp lệ của chủ thể nộp thuế. Pháp luật cũng quy định chặt chẽ trường hợp chứng từ không phản ánh số thuế GTGT hoặc chỉ ghi nhận giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ. Đối với cơ sở kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ, nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê khai, nộp thuế GTGT theo thuế suất thuế GTGT quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT.

Thuế giá trị gia tăng đầu vào xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá trị mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu. Như vậy, phát hành hóa đơn vừa là cơ sở xác định số thuế đầu ra cho chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ, vừa là căn cứ xác định số thuế đầu vào cho bên nhận hàng hóa, dịch vụ. Đối với chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu, vừa là cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế đã hoàn thành ở khâu nhập khẩu, đồng thời là cơ sở để cơ quan thuế nội địa khấu trừ thuế đối vớ hoạt động tiêu dùng trong nước.

thue gia tri gia tang

Thuế giá trị gia tăng đầu vào xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá trị mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa, dịch vụ.

Chủ thể nộp thuế GTGT muốn được khấu trừ thuế đầu vào cũng phải đáp ứng các điều kiện nhất định quy định tại Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC như sau:

– Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

– Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 20 triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác (hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều 15 TT 219/2013)

Theo Thông tư 119/2014 (sửa đổi Thông tư 219/2013), chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế. Bên mua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho nhà cung cấp) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế).

Có thể thấy, phương pháp khấu trừ thuế là phương pháp có khá nhiều ưu điểm như: xác định đúng số thuế phải nộp ở từng khâu, từng chủ thể nộp thuế, chống thất thu thuế; đảm bảo thu đủ số thuế cần thiết để điều tiết thu nhập của người tiêu dùng; đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế,… Song, ưu điểm lớn nhất của phương pháp khấu trừ thuế GTGT chính là doanh nghiệp áp dụng phương pháp này sẽ được khấu trừ thuế đầu vào. Doanh nghiệp có thể cân đối thuế giá trị gia tăng phải đóng khi sử dụng phương pháp này, từ đó doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn vốn hoặc linh hoạt cho việc sử dụng vốn tại doanh nghiệp.

SÀN KẾT NỐI TÀI CHÍNH S86

Địa chỉ: Tòa nhà HP Building – Số 59 Đường Võ Chí Công – Quận Cầu Giấy – TP. Hà Nội

E-mail: S86ketnoitaichinhviet@gmail.com

Hotline: 1900.633.621

Share this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *